Triển khai việc thành lập tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

       Trong thời gian qua, việc thành lập tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam (gọi tắt là tổ chức đảng), tổ chức Đoàn thành niên, tổ chức công đoàn cơ sở (gọi tắt là các tổ chức chính trị - xã hội) được đa số doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quan tâm và thực hiện. Qua đó, các tổ chức này đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động các chủ doanh nghiệp, người lao động thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, việc thành lập tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội vẫn còn tồn tại, hạn chế như: Một số doanh nghiệp đã đi vào hoạt động có đủ điều kiện nhưng chưa thành lập được tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Hiện nay, tại Khu công nghiệp Thạnh Lộc và Khu công nghiệp Thuận Yên, có 14 doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh, dịch vụ, với tổng số lao động trên 9.200 người. Trong đó, có 5/14 doanh nghiệp thành lập tổ chức đảng, 7/14 doanh nghiệp thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, 3/14 doanh nghiệp thành lập tổ chức đoàn thanh niên.

      Thực hiện Công văn số 986/UBND-NC ngày 28/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tiếp tục triển khai Nghị định số 98/2014/NĐ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ, để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được tham gia hoạt động trong tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội. Ban Quản lý Khu kinh tế đã triển khai Nghị định số 98/2014/NĐ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ quy định việc thành lập tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội tại doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đến các doanh nghiệp tại các KCN.

     Theo đó, Nghị định số 98/2014/NĐ-CP quy định một số nội dung về:

     1. Thành lập tổ chức Đảng tại doanh nghiệp: Doanh nghiệp có từ 3 người lao động là đảng viên chính thức trở lên đủ điều kiện thành lập tổ chức Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, việc thành lập và hoạt động được thực hiện như sau:

     1.1. Doanh nghiệp đã có tổ chức Đảng: Tổ chức Đảng tại doanh nghiệp tiến hành rà soát số người lao động là đảng viên đang làm việc ổn định từ 12 tháng trở lên trong doanh nghiệp đang sinh hoạt đảng ở nơi khác và đề nghị cấp ủy đảng cấp trên chuyển số người lao động là đảng viên đó về sinh hoạt tại tổ chức Đảng của doanh nghiệp.

     1.2. Doanh nghiệp chưa có tổ chức Đảng: Cấp ủy đảng cấp trên cơ sở nơi doanh nghiệp hoạt động tiến hành rà soát khi có đủ từ 3 người lao động là đảng viên chính thức đang làm việc ổn định từ 12 tháng trở lên trong doanh nghiệp đang sinh hoạt đảng ở nơi khác, tiến hành chuyển số đảng viên đó về tổ chức Đảng cấp trên cơ sở, phối hợp với doanh nghiệp làm các thủ tục thành lập tổ chức Đảng ở doanh nghiệp.

     1.3. Doanh nghiệp chỉ có 1 hoặc 2 người lao động là đảng viên chính thức, cấp ủy đảng cấp trên cơ sở chuyển số lao động là đảng viên đó về tổ chức Đảng cấp trên cơ sở, quyết định lập chi bộ ghép hoặc phân công đảng viên của tổ chức Đảng cấp trên cơ sở về sinh hoạt và lập tổ chức Đảng tại doanh nghiệp; chi bộ ghép có trách nhiệm thực hiện công tác phát triển đảng ở doanh nghiệp, khi có đủ 3 người lao động là đảng viên chính thức làm việc cùng doanh nghiệp, cấp ủy đảng cấp trên cơ sở quyết định thành lập tổ chức Đảng tại doanh nghiệp.

     1.4. Doanh nghiệp chưa có người lao động là đảng viên, cấp ủy đảng cấp trên cơ sở chỉ đạo cấp ủy đảng cơ sở nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, phân công cấp ủy viên, đảng viên có kinh nghiệm phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp phát hiện, bồi dưỡng tạo nguồn, kết nạp đảng viên, khi đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam, cấp ủy đảng cấp trên cơ sở quyết định thành lập tổ chức Đảng tại doanh nghiệp.

     2. Thành lập các tổ chức chính trị - xã hội tại doanh nghiệp

     2.1. Tổ chức Công đoàn

     a) Doanh nghiệp có từ 5 đoàn viên công đoàn, hoặc người lao động có đơn tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt Nam, đủ điều kiện thành lập tổ chức Công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn và Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

     b) Chậm nhất sau sáu tháng kể từ ngày doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động, công đoàn địa phương, công đoàn ngành, công đoàn khu công nghiệp, khu chế xuất phối hợp cùng doanh nghiệp thành lập tổ chức Công đoàn theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn và Điều lệ Công đoàn Việt Nam để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tập thể lao động.

     c) Sau thời gian quy định tại Điểm b này, nếu doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức Công đoàn, công đoàn cấp trên có quyền chỉ định Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời của doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tập thể lao động.

     2.2. Tổ chức Đoàn thanh niên

     a) Đối với doanh nghiệp có tổ chức Đảng, tổ chức Đoàn thanh niên cấp trên cơ sở cùng với tổ chức Đảng tại doanh nghiệp căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp nêu tại Điều 2 Nghị định số 98/2014/NĐ-CP phối hợp với doanh nghiệp thành lập tổ chức Đoàn thanh niên tại doanh nghiệp.

     b) Đối với doanh nghiệp chưa có tổ chức Đảng, căn cứ vào quy định của pháp luật, Luật Thanh niên và Điều lệ của tổ chức đó, người lao động có nhu cầu, hoặc mong muốn thành lập thì tổ chức Đảng cấp trên cơ sở phối hợp với doanh nghiệp và tổ chức Đoàn thanh niên cấp trên cơ sở xem xét, quyết định thành lập phù hợp với từng doanh nghiệp nêu tại Điều 2 Nghị định số 98/2014/NĐ-CP./.