1. Lời giới thiệu:
Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam Việt Nam là tỉnh cóđồng bằng, rừng nguyên sinh, đồi núi và biển đảo. Vị tríđịa lývà điều kiện tự nhiên đặc biệt đã tạo cho Kiên Giang nhiều tiềm năng và lợi thếđể phát triển kinh tếnông – lâm nghiệp, kinh tếbiển, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chếbiến nông – thủy sản, cùng nhiều danh thắng và di tích lịch sử – văn hóa đặc sắc. Với vị thếlà cửa ngõ ở phía Tây Nam thông ra vịnh Thái Lan, Kiên Giang còn cótiềm năng lớn về kinh tếcửa khẩu, hàng hải và mậu dịch quốc tế,… Tất cả điều kiện trên đã hội tựu tạo nên một Kiên Giang đầy tiềm năng và tràn đầy sức sống, hấp dẫn doanh nghiệp, nhà đầu tư và du khách. Trong định hướng phát triển kinh tế– xã hội giai đoạn 2021 – 2025, tỉnh Kiên Giang đề ra nhiệm vụ giải pháp (nêu cụ thể theo Kế hoạch số 80/KH-UBND ngày 15/5/2021 của UBND tỉnh Kiên Giang).
2. Vị tríđiạ lý:
Kiên Giang là tỉnh giáp với biển Tây, nằm trong mối quan hệ 04 tiểu vùng sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): Tây sông Hậu, Bán đảo Cà Mau, Tứ giác Long Xuyên, vùng biển đảo; ranh giới hành chính: phía Đông bắc giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang; phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu; phía Tây Nam là vịnh Thái Lan với bờ biển dài hơn 200km, có145 hòn đảo lớn nhỏ, giáp với vùng biển của các nước Campuchia, Malaysia, Indonesia; phía Bắc giáp Campuchia, với đường biên giới trên đất liền dài 56,8km.
3. Địa hình:
Kiên Giang có 03 dạng địa hình chính là đồng bằng, đồi núi và biển đảo. Địa hình đồi núi, bao gồm các núi ở khu vực ven biển từ huyện Hòn Đất đến thành phố Hà Tiên, tạo diện mạo đặc sắc cho vùng biển Kiên Giang cólợi thếvề phát triển du lịch và sản xuất vật liệu xây dựng. Địa hình biển đảo, với 145 hòn đảo thuộc 5 quần đảo: Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du, An Thới và Thổ Chu thuận lợi cho phát triển du lịch, vận tải, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ phát triển kinh tế biển. Địa hình đồng bằng, chia cắt thành 03 vùng lớn: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu và U Minh Thượng.
4. Khíhậu:
Nằm trong vùng khíhậu nhiệt đới giómùa cận xích đạo. Khíhậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau. Khíhậu ở Kiên Giang ít chịu ảnh hưởng của thiên tai hơn so với các vùng khác trong cả nước, rất thuận lợi thâm canh tăng vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao.
5. Tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên trên 634.000 ha, trong đó: đất nông nghiệp 570.000 ha chiếm 89,90% đất tự nhiên (đất lúa trên 395.000 ha, chiếm gần 62,29%; đất lâm nghiệp trên 71.000 ha, chiếm 12,45%; đất nuôi trồng thủy sản trên 36.000 ha, chiếm 6,31%;...) đất phi nông nghiệp trên 61.000 ha, chiếm 9,73% diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng trên 3.374 ha, chiếm 0,37% diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung, đất đai của Kiên Giang phù hợp cho phát triển nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
6. Tài nguyên rừng:
Kiên Giang là một trong hai tỉnh vùng ĐBSCL có diện tích rừng lớn nhất và đa dạng nhất, diện tích trên 71.000 ha; trong đó, rừng sản xuất trên 6.067 ha; rừng phòng hộ trên 26.000 ha và rừng đặc dụng trên 38.000 ha,... Đặc biệt, Vườn quốc gia U Minh Thượng - Khu Ramsar thứ 8 của Việt Nam và thứ 2.228 của thế giới, là nơi ghi dấu những giá trị lịch sử vẻ vang, những di tích lịch sử cách mạng năm xưa, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu bảo vệ cảnh quang Hòn Chông đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển và các hệ sinh thái rừng đặc trưng. Đây dược coi là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Ávới tổng diện tích hơn 1,1 triệu ha nằm ở các huyện Kiên Hải, Hòn Đất, Kiên Lương, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, thành phố Phú Quốc, thành phố Hà Tiên và thành phốRạch Giá.
7. Tài nguyên khoáng sản:
Kiên Giang có nguồn khoáng sản tương đối lớn ở vùng ĐBSCL, với trữ lượng đávôi khoảng 440 triệu tấn (lớn nhất miền nam) và trữ lượng khai khác hàng năm là 245 triệu tấn; đáxây dựng trữ lượng khoảng 120 triệu tấn, đất sét trữ lượng 42 triệu tấn, than bùn trữ lượng 150 triệu tấn,… đáp ứng nguồn nguyên liệu khoáng sản phục vụ sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, phân bón,…
8. Tài nguyên thủy sản:
Vùng biển Kiên Giang được xác định là ngư trường giàu tiềm năng của cả nước, cólợi thếhơn hẳn các tỉnh, thành khác trong khu vực để phát triển kinh tếbiển. Với bờ biển dài trên 200 km, ngư trường đánh bắt rộng 63.290 km; ngoài các nguồn cá, tôm, mực, còn có nhiều đặc sản quý như: Hải sâm, sò huyết, bào ngư, ngọc trai và nhiều loại rong biển dùng làm thực phẩm, dược phẩm. Kiên Giang đã và đang phát triển dự án đánh bắt xa bờ để tăng sản lượng khai thác mà vẫn bảo vệ được môi trường và nguồn lợi thủy sản ven bờ.
Bên cạnh vùng biển rộng lớn, Kiên Giang đầu tư phát triển nhiều vùng nuôi tôm, sản lượng nuôi tôm các loại 92.490 tấn, tập trung ở thành phố Hà Tiên và các huyện: Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, An Minh, An Biên và Vĩnh Thuận, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chếbiến thủy sản.
9. Tài nguyên du lịch:
Kiên Giang cónhiều danh thắng và di tích lịch sử nổi tiếng trong đất liền cũng như hải đảo và hình thành 4 vùng du lịch trọng điểm gồm: Vùng PhúQuốc, Vùng Hà Tiên – Kiên Lương và phụ cận; Vùng Rạch Giá – Kiên Hải và phụ cận, Vùng U Minh Thượng và phụ cận.
10. Dân số, lao động và việc làm:
Dân số trên 1,7 triệu người, chiếm trên 10% dân sốvùng ĐBSCL; cótrên 1,1 triệu người trong độ tuổi lao động, lực lượng lao động trẻ, có tay nghề đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Năm 2020, sốlao động được giải quyết việc làm là 35.570 lượt lao động,số lao động được đào tạo nghề trên 25.500 người,....
11. Giáo dục và đào tạo:
Kiên Giang có 01 trường đại học, 05 trường cao đẳng, 01 trường trung cấp chuyên nghiệp với 9.271 sinh viên, gần 50 trung tâm, cơ sở đào tạo nghề, hướng nghiệp khác. Toàn tỉnh có 645 trường với 10.841 lớp học và 352.427 học sinh các bậc giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trên 97,95% (năm 2020).
12. Dịch vụ ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ, hiện toàn tỉnh có trên 60 tổ chức tín dụng, cókhả năng cung ứng vốn đầu tư cho các chương trình, dự án trong và ngoài nước, góp phần phát triển kinh tế– xã hội của tỉnh; hệ thống chuyển tiền điện tử đã được triển khai, đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp và cá nhân. Hệ thống điểm đặt máy rút tiền ATM có mặt hầu hết tại trung tâm thành phố, thị xã và thị trấn trên địa bàn tỉnh.
13. Hạ tầng giao thông:
Kiên Giang cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km, cách thành phố Cần Thơ 115 km. Mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không nối liền các tỉnh trong cả nước và các nước trong khu vực, thuận lợi cho việc hợp tác đầu tư, kết nối giao thương và phát triển du lịch.
- Đường bộ: Là tỉnh có05 tuyến quốc lộ nối với các tỉnh và các vùng như: Quốc lộ 80, quốc lộ 61, quốc lộ 63, quốc lộ N1 và quốc lộ N2, với tổng chiều dài 316 km. Hệ thống đường tỉnh lộ gồm 19 tuyến với chiều dài 300 km; đường đô thị dài 915 km và đường giao thông nông thôn dài 950 km. Đặc biệt, dự án cầu Cái Lớn - Cái Béđã hoàn thành và đi vào hoạt động năm 2014 tạo nên tuyến giao thông liền mạch kết nối các huyện trong tỉnh và các tỉnh vùng Bán đảo Cà Mau.
- Đường thủy: Kiên Giang có 200 km đường bờ biển; một sốtuyến đường thủy quan trọng như tuyến Kiên Lương – Thành phốHồ ChíMinh, tuyến Rạch Giá– Hà Tiên – PhúQuốc và tuyến Rạch Giá– Kiên Hải, thuận lợi trong việc giao thương hàng hóa, tạo ra các điểm tham quan du lịch sinh thái, miệt vườn… Tỉnh cócác cảng chính cóthể phục vụ cho phát triển kinh tế– xã hội: Cảng Dương Đông, cảng An Thới, cảng Hòn Chông, cảng Bãi Nò, cảng Nam Du, cảng Rạch Giá, cảng Bãi Vòng,...
- Đường hàng không: Kiên Giang có Cảng hàng không Rạch Giá, kết nối các đường bay nội địa đến các tỉnh, thành phố trong nước; Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, du khách và các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hiện nay, Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc có kết nối đường bay với 13 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như như: Nga, Trung Quốc, Singapore, Campuchia, Thái Lan, Ý , Anh, ... có khả năng tiếp nhận 20 máy bay trong giờ cao điểm, lượng hàng hóa qua cảng là 27.600 tấn/năm, cóthể vận chuyển 3 triệu lượt khách/năm đến năm 2020 và 7 triệu lượt khách/năm đến năm 2030.
14. Bưu chính viễn thông:
Mạng lưới bưu chính viễn thông được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại hóa, phát triển nhanh đảm bảo cung cấp các thông tin liên lạc, dịch vụ với độ tin vây cao, thông suốt trong nước và quốc tế. Toàn tỉnh có102 bưu cục, 132 điểm bưu điện - văn hóa xã , bán kính phục vụ đạt 2,76 km/điểm; 100% địa bàn xã được phủ sóng mạng thông tin di động 3G, 4G.
15. Mạng lưới điện và nước:
Mạng lưới điện được đầu tư đồng bộ và hiện đại. Hiện nay, 100% xã phường, thị trấn được cấp điện và tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99%. Đặc biệt, dự án cáp điện ngầm 100 KV xuyên biển nối Hà Tiên - Phú Quốc; dự án đường dây 22 KV vượt biển nối Hòn Đất - Hòn Tre và đường dây ven biển An Sơn – Lại Sơn – Nam Du huyện Kiên Hải đã hoàn thành, đưa vào hoạt động, đảm bảo cung cấp nguồn điện ổn định, phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế– xã hội của huyện PhúQuốc và Kiên Hải.
Về cấp nước, hiện nay toàn tỉnh Kiên Giang có 03 nhà máy tập trung và 70 trạm bơm, với tổng công suất của các hệ thống khai thác, xử lývà cung cấp nước cho cả 3 khu vực đô thị, nông thôn và hải đảo khoảng 110.000 m3/ngày đêm. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh ở khu vực thành thị đạt 97,10%, ở khu vực nông thôn đạt 81,11%./.